XEN TOÀN BỘ HỒ SƠ NĂNG LỰC CỦA BLUE BLACK: TẠI ĐÂY
Với các bạn đang làm việc trong lĩnh vực ecommerce thì ROAS (chỉ số lợi tức trên chi tiêu quảng cáo) khá là quen thuộc. Nó gần như là cái được đề cập đến hàng ngày, trong mỗi buổi họp team, trong mỗi bản báo cáo…
“Anh cần ROAS phải đạt ít nhất 2.”
“Sao ROAS lại giảm như thế này? Có chiến lược gì để cải thiện ROAS không?”
“ROAS tháng này là bao nhiêu?”
ROAS đo lường giá trị của các khoản đầu tư vào quảng cáo: với mỗi một đồng đổ vào quảng cáo Facebook thì thu về được bao nhiêu tiền.
Sử dụng ROAS như là một tham chiếu hay là một trong các chỉ số để đánh giá hiệu quả marketing là tốt. Nhưng tập trung vào nó quá mức hay coi nó là yếu tốt lõi để đo lường hiệu quả thì lại là điều rất sai lầm.
Nhiều founder, business owner, kể cả marketing manager nói về ROAS như là thứ duy nhất quyết định liệu họ đang làm marketing đúng hay sai. Nếu ROAS cao thì team làm việc tốt, nếu ROAS thấp thì dừng ngay mọi hoạt động lại. Nhìn ROAS theo cách như vậy là cực kỳ không ổn.
Trong bài viết này mình sẽ giải thích cho bạn hiểu vì sao lại như vậy.
 và những điều Marketer bắt buộc phải hiểu(2).png)
ROAS là viết tắt của thuật ngữ return on ad spend, tức là lợi tức trên chi tiêu quảng cáo. Chỉ số này đo lường doanh thu được tạo ra từ ngân sách đầu tư vào các chiến dịch quảng cáo. Với một đồng đổ vào quảng cáo thì thu về được bao nhiêu tiền (revenue).
Cách tính toán chỉ số ROAS
Về cơ bản, công thức tính ROAS là như thế này:
Doanh thu (revenue hoặc sales) ÷ Chi phí quảng cáo (advertising costs) = ROAS
Hiển nhiên ROAS luôn được kỳ vọng trên 1. Trên 1 nghĩa là cái bạn thu về lớn hơn cái bạn đã bỏ ra. Không ai muốn bỏ ra 10 đồng mà chỉ thu về được 9 đồng, như thế nghĩa là lỗ.
Ví dụ, nếu bạn tiêu $100 vào quảng cáo và thu về $200 doanh thu thì khi đó ROAS của bạn là $200/$100 = 2 (hoặc 200%) => có lợi
Nếu bạn chạy quảng cáo mất $100 mà chỉ thu về $50 doanh thu thì ROAS chỉ là 0.5 ($50/$100) => lỗ
Bạn có thể theo dõi chỉ số ROAS trên dashboard của các nền tảng quảng cáo, trên các nền tảng data analytics bạn đang dùng hoặc nhập dữ liệu vào file Excel/spreadsheet rồi dùng hàm tính. Cách khác nữa là dùng các công cụ tính ROAS miễn phí trên mạng chẳng hạn như tool này: Triple Whale Free ROAS Calculator.
Câu trả lời cho câu hỏi này phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm lĩnh vực của business, loại sản phẩm, chất lượng sản phẩm, target audience, ngân sách quảng cáo, nội dung quảng cáo… Tất cả các yếu tố này đều quyết định tới hiệu quả chạy quảng cáo, đồng nghĩa với việc chúng cũng quyết định tới ROAS.
Một số business có thể cần ROAS 10 thì mới có lợi nhuận. Trong khi đó, business khác chỉ cần ROAS 2 là đã vận hành khoẻ mạnh rồi. Sử dụng benchmark ngành là tốt để tham chiếu điều chỉnh hoạt động của bạn nhưng cũng cần đo lường dựa trên bản thân brand nữa. Không phải thấy người ta ROAS cao là mình cũng phải tìm mọi cách đạt được như vậy.
ROAS được sử dụng phổ biến để đo lường hiệu quả quảng cáo vì nhiều lý do.
Thứ nhất, các nền tảng quảng cáo bây giờ đều tự tính toán sẵn chỉ số ROAS (có thể ẩn dưới dạng conversion value/cost). Vào dashboard là bạn sẽ thấy với mỗi chiến dịch ROAS là bao nhiêu mà không cần phải mất công thu thập dữ liệu rồi tính tay.
Thuận tiện như vậy thì tại sao phải mất công tìm kiếm một cách đo lường khác đúng không? Tất cả chúng ta đều dễ bị ảnh hưởng bởi sự mặc định.
Tuy nhiên, một hệ thống phân tích dữ liệu chính xác nên hiển thị tác động của new customer acquisition (khách hàng mới) và nuôi dưỡng khách hàng cũ đối với doanh thu. Tức là với một chiến dịch quảng cáo Facebook thu về 5000 đô trong 10 ngày thì bao nhiêu % doanh thu là đến từ khách hàng mới và bao nhiêu đến từ khách hàng cũ.
Điều này gần như không thể làm được bởi vì mỗi một platform lại có cách đo lường hiệu quả khách nhau, và brand mà hoạt động càng lâu trên thị trường rồi thì data càng trở nên phức tạp.
Thứ hai, ROAS dễ vẽ ra một bức tranh tốt đẹp điều mà các brand rất thích nhìn thấy.
Nếu bạn làm việc với một agency, bạn sẽ thấy họ dùng chỉ số ROAS để báo cáo kết quả rất nhiều. Họ có thể tính tổng ROAS hoặc tập trung vào một số campaign mà dễ “tweak" từ đó cho ra một con số đẹp mộng mơ.
Mình lấy ví dụ, khi bạn có khuyến mãi 30%, khả năng để thu được sales lớn là hiển nhiên. Lúc này bạn chi $300 đô cho quảng cáo Facebook nhưng có thể thu về hàng chục ngàn đô doanh thu. ROAS quá cao ấy chứ. Vậy nếu tập trung vào ROAS để report thì có phản ánh đúng hiệu quả quảng cáo không? Chưa chắc.
Bạn chạy quảng cáo Google Ads. Bạn dồn phần lớn ngân sách vào chiến dịch “branded search" tức là nhắm vào các search term mà chứa tên thương hiệu. Nếu thương hiệu đã nổi tiếng, đã hoạt động lâu trên thị trường, đã có lượng search tương đối hàng tháng thì không có gì ngạc nhiên “branded search" campaign sẽ mang về ROAS cao. Vậy thì trong trường hợp này report bằng ROAS có ý nghĩa nhiều không? Không.
Khi bạn có khuyến mãi, khi bạn nhắm vào tên thương hiệu, nhu cầu đã ở đó rồi. Demand đã ở đó rồi. Đánh giá hiệu quả quảng cáo chỉ dựa vào ROAS sẽ không đáng tin cậy.
Với các bạn đang làm việc trong lĩnh vực ecommerce thì ROAS (chỉ số lợi tức trên chi tiêu quảng cáo) khá là quen thuộc. Nó gần như là cái được đề cập đến hàng ngày, trong mỗi buổi họp team, trong mỗi bản báo cáo…
“Anh cần ROAS phải đạt ít nhất 2.”
“Sao ROAS lại giảm như thế này? Có chiến lược gì để cải thiện ROAS không?”
“ROAS tháng này là bao nhiêu?”
ROAS đo lường giá trị của các khoản đầu tư vào quảng cáo: với mỗi một đồng đổ vào quảng cáo Facebook thì thu về được bao nhiêu tiền.
Sử dụng ROAS như là một tham chiếu hay là một trong các chỉ số để đánh giá hiệu quả marketing là tốt. Nhưng tập trung vào nó quá mức hay coi nó là yếu tốt lõi để đo lường hiệu quả thì lại là điều rất sai lầm.
Nhiều founder, business owner, kể cả marketing manager nói về ROAS như là thứ duy nhất quyết định liệu họ đang làm marketing đúng hay sai. Nếu ROAS cao thì team làm việc tốt, nếu ROAS thấp thì dừng ngay mọi hoạt động lại. Nhìn ROAS theo cách như vậy là cực kỳ không ổn.
Trong bài viết này mình sẽ giải thích cho bạn hiểu vì sao lại như vậy.
ROAS là viết tắt của thuật ngữ return on ad spend, tức là lợi tức trên chi tiêu quảng cáo. Chỉ số này đo lường doanh thu được tạo ra từ ngân sách đầu tư vào các chiến dịch quảng cáo. Với một đồng đổ vào quảng cáo thì thu về được bao nhiêu tiền (revenue).
Cách tính toán chỉ số ROAS
Về cơ bản, công thức tính ROAS là như thế này:
Doanh thu (revenue hoặc sales) ÷ Chi phí quảng cáo (advertising costs) = ROAS
Hiển nhiên ROAS luôn được kỳ vọng trên 1. Trên 1 nghĩa là cái bạn thu về lớn hơn cái bạn đã bỏ ra. Không ai muốn bỏ ra 10 đồng mà chỉ thu về được 9 đồng, như thế nghĩa là lỗ.
Ví dụ, nếu bạn tiêu $100 vào quảng cáo và thu về $200 doanh thu thì khi đó ROAS của bạn là $200/$100 = 2 (hoặc 200%) => có lợi
Nếu bạn chạy quảng cáo mất $100 mà chỉ thu về $50 doanh thu thì ROAS chỉ là 0.5 ($50/$100) => lỗ
Bạn có thể theo dõi chỉ số ROAS trên dashboard của các nền tảng quảng cáo, trên các nền tảng data analytics bạn đang dùng hoặc nhập dữ liệu vào file Excel/spreadsheet rồi dùng hàm tính. Cách khác nữa là dùng các công cụ tính ROAS miễn phí trên mạng chẳng hạn như tool này: Triple Whale Free ROAS Calculator.
Câu trả lời cho câu hỏi này phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm lĩnh vực của business, loại sản phẩm, chất lượng sản phẩm, target audience, ngân sách quảng cáo, nội dung quảng cáo… Tất cả các yếu tố này đều quyết định tới hiệu quả chạy quảng cáo, đồng nghĩa với việc chúng cũng quyết định tới ROAS.
Một số business có thể cần ROAS 10 thì mới có lợi nhuận. Trong khi đó, business khác chỉ cần ROAS 2 là đã vận hành khoẻ mạnh rồi. Sử dụng benchmark ngành là tốt để tham chiếu điều chỉnh hoạt động của bạn nhưng cũng cần đo lường dựa trên bản thân brand nữa. Không phải thấy người ta ROAS cao là mình cũng phải tìm mọi cách đạt được như vậy.
ROAS được sử dụng phổ biến để đo lường hiệu quả quảng cáo vì nhiều lý do.
Thứ nhất, các nền tảng quảng cáo bây giờ đều tự tính toán sẵn chỉ số ROAS (có thể ẩn dưới dạng conversion value/cost). Vào dashboard là bạn sẽ thấy với mỗi chiến dịch ROAS là bao nhiêu mà không cần phải mất công thu thập dữ liệu rồi tính tay.
Thuận tiện như vậy thì tại sao phải mất công tìm kiếm một cách đo lường khác đúng không? Tất cả chúng ta đều dễ bị ảnh hưởng bởi sự mặc định.
Tuy nhiên, một hệ thống phân tích dữ liệu chính xác nên hiển thị tác động của new customer acquisition (khách hàng mới) và nuôi dưỡng khách hàng cũ đối với doanh thu. Tức là với một chiến dịch quảng cáo Facebook thu về 5000 đô trong 10 ngày thì bao nhiêu % doanh thu là đến từ khách hàng mới và bao nhiêu đến từ khách hàng cũ.
Điều này gần như không thể làm được bởi vì mỗi một platform lại có cách đo lường hiệu quả khách nhau, và brand mà hoạt động càng lâu trên thị trường rồi thì data càng trở nên phức tạp.
Thứ hai, ROAS dễ vẽ ra một bức tranh tốt đẹp điều mà các brand rất thích nhìn thấy.
Nếu bạn làm việc với một agency, bạn sẽ thấy họ dùng chỉ số ROAS để báo cáo kết quả rất nhiều. Họ có thể tính tổng ROAS hoặc tập trung vào một số campaign mà dễ “tweak" từ đó cho ra một con số đẹp mộng mơ.
Mình lấy ví dụ, khi bạn có khuyến mãi 30%, khả năng để thu được sales lớn là hiển nhiên. Lúc này bạn chi $300 đô cho quảng cáo Facebook nhưng có thể thu về hàng chục ngàn đô doanh thu. ROAS quá cao ấy chứ. Vậy nếu tập trung vào ROAS để report thì có phản ánh đúng hiệu quả quảng cáo không? Chưa chắc.
Bạn chạy quảng cáo Google Ads. Bạn dồn phần lớn ngân sách vào chiến dịch “branded search" tức là nhắm vào các search term mà chứa tên thương hiệu. Nếu thương hiệu đã nổi tiếng, đã hoạt động lâu trên thị trường, đã có lượng search tương đối hàng tháng thì không có gì ngạc nhiên “branded search" campaign sẽ mang về ROAS cao. Vậy thì trong trường hợp này report bằng ROAS có ý nghĩa nhiều không? Không.
Khi bạn có khuyến mãi, khi bạn nhắm vào tên thương hiệu, nhu cầu đã ở đó rồi. Demand đã ở đó rồi. Đánh giá hiệu quả quảng cáo chỉ dựa vào ROAS sẽ không đáng tin cậy.
Đọc phần ở trên, có lẽ bạn đã nhìn thấy việc chỉ tập trung vào ROAS có nhiều điểm không ổn. Dưới đây mình sẽ liệt kê thêm vài lý do nữa.
Thứ nhất, ROAS sẽ chính xác nếu như việc tracking và attribution chính xác và nhất quán giữa các platform.
Attribution window (cửa sổ/khung thời gian chuyển đổi) là khoảng thời gian từ lúc một click vào quảng cáo, xem video… cho đến khi một hành động mong đợi được thực hiện (chẳng hạn mua hàng).
Mình lấy ví dụ, Facebook có nhiều attribution window, nhưng phổ biến là 1-day view, 7-day click. Nghĩa là bất cứ ai mua hàng trong vòng 1 ngày sau khi họ nhìn thấy/xem quảng cáo hoặc trong vòng 7 ngày kể từ lúc họ click vào quảng cáo thì sẽ được tính là một chuyển đổi (conversion).
Trong khi đó, attribution mặc định của Google Ads là last click. Nghĩa là click gần nhất vào quảng cáo kéo theo hoạt động mua hàng sẽ được tính là một chuyển đổi. Google Ads cũng sử dụng lookback window, tức là khoảng thời gian bạn muốn Google Ads theo dõi hành vi của một người. Lookback window có thể là 30 ngày, 60 ngày, 90 ngày. Sau 30 ngày, nếu như người đó không mua hàng thì last click của họ không được tính là conversion.
Khi attribution window không đồng nhất giữa các platform thì con số doanh thu bạn nhìn thấy trên dashboard của từng nền tảng không phải là con số chính xác. Đồng nghĩa với việc ROAS cũng không phản ánh hiệu quả thật sự.
Thứ hai, hầu hết các business hiện nay đều sử dụng nhiều kênh marketing: organic traffic, social media, email marketing, PR. Social media cũng có năm bảy loại, đủ các kênh.
Một người có thể nhìn thấy một quảng cáo hôm nay và click vào quảng cáo nhưng vào website chưa đủ thuyết phục để khiến họ mua hàng. Hôm sau họ nhận được một email hoặc nhìn thấy một post trên Instagram, lúc này họ mới tò mò vào website lần nữa và cảm thấy sẵn sàng để mua.
Như vậy, bạn có thể thấy các channel đóng vai trò nhất định và gắn kết với nhau trong hành trình mua hàng của một người, chứ không phải tách ra. Nếu chỉ dựa vào ROAS trên platform và cho rằng hoạt động quảng cáo mang về ngần ấy doanh thu thì không hề chính xác chút nào.
Thứ ba, một số khách hàng sẽ dễ convert hơn những người khác. Mình lấy ví dụ, những người đã mua từ bạn vài lần rồi chắc chắn họ sẽ dễ dàng quay lại mua hơn. Có khi không cần bạn chạy quảng cáo remarketing, họ cũng tự động đến với bạn nhiều lần nữa, miễn là họ vẫn còn nhu cầu và còn thích sản phẩm của bạn.
Với những người chưa biết đến bạn bao giờ, việc thuyết phục họ mua hàng mất nhiều thời gian và sẽ khó hơn rất nhiều.
Khi bạn thiết lập quảng cáo, bạn tạo các chiến dịch khác nhau nhắm tới từng đối tượng khác nhau: prospecting (tìm khách hàng mới), remarketing (nhắm tới những người đã mua và/hoặc đã biết đến bạn). Rõ ràng, ROAS của remarketing sẽ cao hơn ROAS của prospecting đúng không?
Nhưng cái hay là nhiều marketer/business owner cứ nhìn vào ROAS của remarketing và áp đặt ROAS của propecting cũng phải đạt như vậy. Cái kia đạt 5 thì cái này cũng phải 5, chứ không thể chỉ 1 được. Cách tiếp cận hoàn toàn sai lầm.
Khi bạn chỉ tập trung vào chỉ số ROAS, bạn dồn sự chú ý của mình vào channel performance mà quên đi customer performance.
Bạn cần nhớ với mọi business, customer luôn có hai loại: new customer (acquisition) và existing customer (retention). Existing customer cũng có nhiều loại nhỏ nữa: đã mua 1 lần, đã mua 2 lần, đã mua 3 lần, đã mua N lần… ; đã mua 3 lần và AOV > $500; đã mua 5 lần và AOV < $300.
Để đo lường hiệu quả thật sự của marketing và quảng cáo, cần tập trung vào khách hàng; cần sử dụng các metric khác như customer lifetime value (LTV), MER (marketing efficiency ratio), tính toán incremental value… Liên tục thử nghiệm, tối ưu hoá các chiến dịch và nhìn vào bức tranh lớn là mục tiêu kinh doanh chứ không phải chỉ mục tiêu marketing đơn thuần
Đọc phần ở trên, có lẽ bạn đã nhìn thấy việc chỉ tập trung vào ROAS có nhiều điểm không ổn. Dưới đây mình sẽ liệt kê thêm vài lý do nữa.
Thứ nhất, ROAS sẽ chính xác nếu như việc tracking và attribution chính xác và nhất quán giữa các platform.
Attribution window (cửa sổ/khung thời gian chuyển đổi) là khoảng thời gian từ lúc một click vào quảng cáo, xem video… cho đến khi một hành động mong đợi được thực hiện (chẳng hạn mua hàng).
Mình lấy ví dụ, Facebook có nhiều attribution window, nhưng phổ biến là 1-day view, 7-day click. Nghĩa là bất cứ ai mua hàng trong vòng 1 ngày sau khi họ nhìn thấy/xem quảng cáo hoặc trong vòng 7 ngày kể từ lúc họ click vào quảng cáo thì sẽ được tính là một chuyển đổi (conversion).
Trong khi đó, attribution mặc định của Google Ads là last click. Nghĩa là click gần nhất vào quảng cáo kéo theo hoạt động mua hàng sẽ được tính là một chuyển đổi. Google Ads cũng sử dụng lookback window, tức là khoảng thời gian bạn muốn Google Ads theo dõi hành vi của một người. Lookback window có thể là 30 ngày, 60 ngày, 90 ngày. Sau 30 ngày, nếu như người đó không mua hàng thì last click của họ không được tính là conversion.
Khi attribution window không đồng nhất giữa các platform thì con số doanh thu bạn nhìn thấy trên dashboard của từng nền tảng không phải là con số chính xác. Đồng nghĩa với việc ROAS cũng không phản ánh hiệu quả thật sự.
Thứ hai, hầu hết các business hiện nay đều sử dụng nhiều kênh marketing: organic traffic, social media, email marketing, PR. Social media cũng có năm bảy loại, đủ các kênh.
Một người có thể nhìn thấy một quảng cáo hôm nay và click vào quảng cáo nhưng vào website chưa đủ thuyết phục để khiến họ mua hàng. Hôm sau họ nhận được một email hoặc nhìn thấy một post trên Instagram, lúc này họ mới tò mò vào website lần nữa và cảm thấy sẵn sàng để mua.
Như vậy, bạn có thể thấy các channel đóng vai trò nhất định và gắn kết với nhau trong hành trình mua hàng của một người, chứ không phải tách ra. Nếu chỉ dựa vào ROAS trên platform và cho rằng hoạt động quảng cáo mang về ngần ấy doanh thu thì không hề chính xác chút nào.
Thứ ba, một số khách hàng sẽ dễ convert hơn những người khác. Mình lấy ví dụ, những người đã mua từ bạn vài lần rồi chắc chắn họ sẽ dễ dàng quay lại mua hơn. Có khi không cần bạn chạy quảng cáo remarketing, họ cũng tự động đến với bạn nhiều lần nữa, miễn là họ vẫn còn nhu cầu và còn thích sản phẩm của bạn.
Với những người chưa biết đến bạn bao giờ, việc thuyết phục họ mua hàng mất nhiều thời gian và sẽ khó hơn rất nhiều.
Khi bạn thiết lập quảng cáo, bạn tạo các chiến dịch khác nhau nhắm tới từng đối tượng khác nhau: prospecting (tìm khách hàng mới), remarketing (nhắm tới những người đã mua và/hoặc đã biết đến bạn). Rõ ràng, ROAS của remarketing sẽ cao hơn ROAS của prospecting đúng không?
Nhưng cái hay là nhiều marketer/business owner cứ nhìn vào ROAS của remarketing và áp đặt ROAS của propecting cũng phải đạt như vậy. Cái kia đạt 5 thì cái này cũng phải 5, chứ không thể chỉ 1 được. Cách tiếp cận hoàn toàn sai lầm.
Khi bạn chỉ tập trung vào chỉ số ROAS, bạn dồn sự chú ý của mình vào channel performance mà quên đi customer performance.
Bạn cần nhớ với mọi business, customer luôn có hai loại: new customer (acquisition) và existing customer (retention). Existing customer cũng có nhiều loại nhỏ nữa: đã mua 1 lần, đã mua 2 lần, đã mua 3 lần, đã mua N lần… ; đã mua 3 lần và AOV > $500; đã mua 5 lần và AOV < $300.
Để đo lường hiệu quả thật sự của marketing và quảng cáo, cần tập trung vào khách hàng; cần sử dụng các metric khác như customer lifetime value (LTV), MER (marketing efficiency ratio), tính toán incremental value… Liên tục thử nghiệm, tối ưu hoá các chiến dịch và nhìn vào bức tranh lớn là mục tiêu kinh doanh chứ không phải chỉ mục tiêu marketing đơn thuần.
XEM THÊM : HỌC CÁCH 5 THƯƠNG HIỆU LỚN TRONG NGÀNH F&B TĂNG CƯỜNG LÒNG TRUNG THÀNH VỚI THƯƠNG HIỆU
Starbucks gần đây đã trở thành tiêu điểm khi vượt kỳ vọng của Phố Wall trong báo cáo thu nhập quý đầu tiên cho năm tài chính 2025. Sự kiện này diễn ra trong bối cảnh gã khổng lồ cà phê đang thực hiện chiến lược chuyển mình đáng kể dưới sự lãnh đạo của CEO mới, Brian Niccol.
DeepSeek - một mô hình ngôn ngữ lớn (LLM) mới nổi, đang gây chú ý nhờ khả năng vận hành với chi phí thấp. Theo nhận định từ các chuyên gia trong ngành, công nghệ này có thể thay đổi cách các thương hiệu phát triển ứng dụng AI theo hướng tiết kiệm và tùy chỉnh hơn, mở ra cơ hội mới thay vì phụ thuộc vào các nền tảng AI của các tập đoàn lớn như Google, Microsoft,...
Xu hướng hoài niệm gần như chưa bao giờ lỗi thời trong marketing. Điều này không có gì khó hiểu bởi quá khứ là một trong các yếu tố hàng đầu chạm đến trái tim của khách hàng. Bratz, Barbie, Teenage Mutant Ninja Turtles, Motorola Razr - ngày nay, có vẻ như mọi thứ đều đang được khởi động lại, làm lại hoặc hồi sinh. Một số người có thể coi xu hướng này là các thương hiệu thiếu ý tưởng mới hoặc giảm thiểu rủi ro bằng cách dựa vào sự nổi tiếng trong quá khứ để thúc đẩy thành công trong tương lai. Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng bối cảnh văn hóa của chúng ta đang mang nỗi nhớ trở lại.
Ngay cả khi công nghệ tiến bộ, những hình dung về “ngày xưa tốt đẹp” vẫn khiến khách hàng quan tâm và hứng thú. Nhưng liệu tiếp thị hoài niệm có thực sự bền vững, hay đó chỉ là cái “bẫy” cảm xúc cho thương hiệu và khách hàng? Hãy cùng phân tích một chút nhé!
2025 là khởi đầu cho xu hướng marketing mới, định hình chiến lược tiếp thị, đặc biệt với các doanh nghiệp đang phải tự vươn mình với nhiều mục tiêu lớn hơn. Cùng Blue Black tìm hiểu ngay nhé!
Các chiến dịch marketing là phần không thể thiếu trong quá trình vận hành một doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp tiếp cận khách hàng và thúc đẩy doanh số. Một chiến dịch thành công có thể đưa thương hiệu lên một tầm cao mới, mặt khác, nếu thất bại, thương hiệu sẽ vướng vào chỉ trích và nặng hơn là sự tẩy chay của khách hàng. Do đó, khi đưa ra ý tưởng chiến lược triển khai, thương hiệu cần lên kế hoạch chi tiết và dự trù những tình huống xấu nhất có thể xảy ra nhằm đưa ra phản ứng kịp thời.
Cùng tìm hiểu 8 chiến dịch gây tranh luận của các thương hiệu lớn, và rút ra những bài học kinh nghiệm trong việc triển khai các hoạt động marketing và quảng cáo!
Britannia - một trong những thương hiệu FMCG lâu đời tại Ấn Độ, vừa ra mắt chiến dịch quảng cáo ngoài trời (OOH) mang tên "Nature Shapes Britannia" (Tạm dịch: Thiên nhiên định hình Britannia). Chiến dịch này không chỉ thể hiện cam kết của Britannia về phát triển bền vững mà còn đưa ra một cách tiếp cận mới mẻ và sáng tạo trong lĩnh vực quảng cáo ngoài trời.
Trước làn sóng số hóa mạnh mẽ trong ngành Logistics, VELA - nền tảng Logistics số thuộc Tập đoàn ITL - cần một chiến lược đột phá để khẳng định vị thế tiên phong trên thị trường. Sự hợp tác với GIGAN JSC đã mang lại những thành tựu vượt mong đợi, với mức tăng trưởng khách hàng tiềm năng vượt 117% KPIs.
Trải nghiệm khách hàng (CX) và trải nghiệm người dùng (UX) thường được coi là hai khía cạnh riêng biệt của quan hệ giữa khách hàng và sản phẩm. Tuy nhiên, sự phân biệt giữa chúng không chỉ đơn thuần về phạm vi, mà còn về cách tiếp cận và mục đích.
Phễu marketing không chỉ giúp doanh nghiệp nắm bắt rõ hơn từng giai đoạn trong hành trình mua hàng của khách hàng mà còn tạo điều kiện triển khai những chiến lược tiếp thị phù hợp, từ đó tăng tỷ lệ chuyển đổi và doanh thu. Hãy cùng chúng tôi khám phá sâu hơn về khái niệm phễu marketing là gì và vì sao phễu marketing lại quan trọng với các doanh nghiệp trong bài viết dưới đây.
Trong tương lai, sự xuất hiện của trí tuệ nhân tạo (AI) có thể được ví như cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba. Công nghệ này đã và đang thay đổi cách con người sống, từ việc ra đời xe tự lái cho đến sự phổ biến của các ứng dụng như ChatGPT. Không dừng lại ở đó, AI đang chuẩn bị tạo ra một cuộc cách mạng mới trong lĩnh vực mua sắm, với sự ra đời của các trợ lý mua sắm thông minh - những công cụ tiên tiến có khả năng lựa chọn, đề xuất và giới thiệu sản phẩm phù hợp cho mọi người tiêu dùng.
Năm 2025 hứa hẹn sẽ là giai đoạn mang đến những thay đổi đáng kể trong cách các thương hiệu và nhà sáng tạo nội dung hợp tác để tiếp cận khán giả. Với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế sáng tạo, các thương hiệu cần nhiều hơn là những chiến dịch quảng cáo đơn thuần. Thay vào đó, họ phải nắm bắt những xu hướng mới, đặt trọng tâm vào việc xây dựng mối quan hệ bền vững với cộng đồng và khai thác tối đa giá trị từ nhà sáng tạo.
Nhân dịp Tết Nguyên Đán 2025, Apple vừa cho ra mắt bộ phim ngắn mang tên "I Made a Mixtape for You" (Tạm dịch: Tôi làm một băng nhạc tổng hợp cho bạn) như một phần trong chiến dịch "Shot on iPhone" lâu năm của hãng. Đây là lần thứ 8 Apple thực hiện một bộ phim ngắn chào đón Tết Nguyên Đán.
Văn hóa không chỉ đại diện cho số đông mà còn sở hữu sức hút mạnh mẽ, giúp thương hiệu truyền tải thông điệp theo cách độc đáo và sáng tạo. Chính vì vậy, vivo, một trong những thương hiệu công nghệ lớn mạnh, đã triển khai chiến dịch truyền thông sáng tạo, nhằm ra mắt sản phẩm vivo V40 5G. Chiến dịch này không chỉ tạo dấu ấn sâu sắc trong lòng thế hệ khách hàng trẻ yêu thích công nghệ và nghệ thuật mà còn đưa hình ảnh thương hiệu vivo đến gần hơn với người tiêu dùng.
Ngành thời trang Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ với quy mô thị trường năm 2023 ước tính đạt 4 tỷ USD và tốc độ tăng trưởng trung bình (CAGR) dự kiến 10% trong giai đoạn 2024-2028, hứa hẹn chạm mốc 6,5 tỷ USD vào năm 2028. Với dân số hơn 97 triệu người và tầng lớp trung lưu ngày càng gia tăng, ngành này không chỉ là cơ hội hấp dẫn cho doanh nghiệp mà còn đặt ra những thách thức lớn trong việc cạnh tranh và chiếm lĩnh thị trường. Trong bối cảnh đó, SEO đã trở thành công cụ chiến lược giúp các thương hiệu thời trang tối ưu hóa sự hiện diện trực tuyến và tiếp cận khách hàng tiềm năng. Bài viết này sẽ phân tích chi tiết cách TOS triển khai chiến lược SEO cho Brand R hướng đến mục tiêu cải thiện và tăng độ nhận diện thương hiệu.
Tết không chỉ là dịp sum vầy, mà còn là cơ hội để lan tỏa yêu thương và sẻ chia những giá trị nhân văn sâu sắc. Với tinh thần ấy, nhiều thương hiệu lớn đã triển khai loạt chiến dịch cộng đồng (CSR) đầy ý nghĩa, chung tay mang mùa xuân đủ đầy và hạnh phúc đến mọi gia đình trên khắp cả nước.
Cookies trong Affiliate Marketing là những đoạn mã nhỏ được gửi từ website của nhà cung cấp (merchant) đến trình duyệt của người dùng và được lưu trữ trên thiết bị của họ. Chúng đóng vai trò quan trọng trong việc theo dõi hành trình của người dùng và xác định xem một đơn hàng có được thực hiện thông qua liên kết affiliate của bạn hay không.
Publicis Groupe đã khởi động năm 2025 bằng việc hợp nhất hai mạng lưới sáng tạo hàng đầu của mình, Leo Burnett và Publicis Worldwide để tạo thành một thực thể mới mang tên Leo. Động thái này nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của các thương hiệu toàn cầu về sự sáng tạo vượt trội, thúc đẩy chuyển đổi quy mô lớn, nội dung cá nhân hóa và trải nghiệm thương hiệu kết nối.